1. Sớ Cầu An

(Phật Nãi Tam Giới Y Vương)

 

Nguyên văn:

 

伏以

佛乃三界醫王、能除眾生病苦、聖是四方良藥、服之心体安祥、清淨法身、躋大覺。拜疏爲越南國...省、...縣(郡)、...社、...村、家居奉

佛修香諷經祈禱解病保命求安事。今弟子...等、惟日仰干

金相光中、俯垂炤鑒。言念、三業六根、累世造諸罪障。四生六道、延年冤對仇讐。或被邪魔親屬、或著鬼魅惡神。苦惱不安、身臨疾病、全憑

佛聖證明、慈悲護佑。五臟調和、四肢壯健。茲者本月吉日、敬設菲儀、宣行法事。諷誦

大乘法寶尊經...加持消災諸品神呪、頂禮

三身寶相、萬德金容、集此良因、祈增福壽。今則謹具疏文、和南拜白。

南無十方常住三寶作大證明。

南無東方敎主滿月慈容藥師琉璃光王佛證明。

南無大慈悲救苦難靈感應觀世音菩薩。

南無上中下分三界天曹地府人間列位諸聖賢。筵奉、諸尊菩薩、護法神、伽藍眞宰、諸位善神、同垂炤鑒、共降吉祥。伏願、三寶證明、放慈光而擁護、萬靈洞鑒、現神力以扶持、疾病早痊、身躬寧靜。仰賴

佛聖證明。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Phật nãi Tam Giới1 Y Vương,2 năng trừ chúng sanh bệnh khổ, Thánh thị tứ phương lương dược, phục chi tâm thể an tường; thanh tịnh Pháp Thân,3 thọ tê Đại Giác.4

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật5 tu hương phúng kinh kỳ đảo giải bệnh bảo mạng cầu an sự. Kim đệ tử6 … đẳng, duy nhật ngưỡng can, kim tướng quang trung, phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Tam Nghiệp,7 Lục Căn8 lụy thế tạo chư tội chướng; Tứ Sanh,9 Lục Đạo10 diên niên oan đối cừu thù; hoặc bị tà ma thân thuộc, hoặc trước quỷ mị ác thần; khổ não bất an, thân lâm tật bệnh; toàn bằng Phật Thánh chứng minh, từ bi hộ hựu; Ngũ Tạng11 điều hòa, Tứ Chi12 tráng kiện. Tư giả bổn nguyệt cát nhật, kính thiết phỉ nghi, tuyên hành pháp sự; phúng tụng Đại Thừa13 pháp bảo tôn kinh ...,14 gia trì Tiêu Tai15 chư phẩm Thần Chú;16 đảnh lễ Tam Thân17 bảo tướng, vạn đức kim dung; tập thử lương nhân, kỳ tăng phước thọ. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam18 bái bạch:

Nam Mô19 Thập Phương Thường Trú Tam Bảo tác đại chứng minh.

Nam Mô Đông Phương Giáo Chủ Mãn Nguyệt Từ Dung Dược Sư20 Lưu Ly Quang Vương Phật chứng minh.

Nam Mô Đại Từ Bi Cứu Khổ Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm21 Bồ Tát.22

Nam Mô Thượng Trung Hạ Phân Tam Giới Thiên Tào Địa Phủ23 Nhân Gian liệt vị chư thánh hiền.

Diên phụng: Chư tôn Bồ Tát, Hộ Pháp24 Long Thần25; Già Lam26 Chơn Tể,27 chư vị thiện thần; đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Tam Bảo chứng minh, phóng từ quang nhi ủng hộ; vạn linh28 động giám, hiện thần lực dĩ phò trì; tật bệnh tảo thuyên, thân cung ninh tĩnh. Ngưỡng lại Phật Thánh chứng minh. Cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Phật là Ba Cõi Y Vương, khéo chữa chúng sanh bệnh khổ; Thánh ấy bốn phương thuốc tốt, uống vào tâm thể an lành; trong sạch Pháp Thân, lên ngôi giác ngộ.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh, cầu nguyện giải bệnh, cầu an thân mạng. Hôm nay đệ tử …, ngưỡng tướng hào quang, xót thương chiếu giám.

Nép nghĩ: Ba Nghiệp Sáu Căn, bao đời tạo nhiều tội chướng; Bốn Cõi Sáu Đường, hằng năm oan đối thù hận; hoặc bị tà ma thân thuộc, hay gặp ác thần quỷ mị; khổ não chẳng an, thân mang tật bệnh; thảy nhờ Phật Thánh chứng minh, từ bi gia hộ; Năm Tạng điều hòa, Bốn Chi tráng kiện. Nay nhân ngày lành tháng tốt, kính bày lễ mọn; tuyên hành pháp sự, trì tụng tôn kinh pháp bảo Đại Thừa ...; gia trì Tiêu Tai, các thần chú khác; đảnh lễ Ba Thân tướng báu, muôn đức dung vàng; lấy nhân tốt nầy, cầu thêm phước thọ. Nay dâng sớ văn, kính thành lạy thỉnh:

Kính lạy Ba Ngôi Báu Thường Trú Trong Mười Phương chứng giám cho.

Kính lạy đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, giáo chủ phương Đông, tướng mạo trăng tròn từ bi, chứng giám cho.

Kính lạy đức Quan Thế Âm Bồ Tát, có từ bi lớn, cứu khổ nạn linh cảm ứng, chứng giám cho.

Kính lạy hết thảy các vị thánh hiền trong ba cõi người, địa phủ và trên trời chứng giám cho.

Cùng xin chư vị Bồ Tát, Long Thần Hộ Pháp, đấng chủ tể Già Lam, các vị thiện thần, đồng thương chứng giám, ban cho cát tường.

Lại nguyện: Tam Bảo chứng minh, phóng ánh từ bi mà ủng hộ; vạn loài ngầm trợ, hiện thần lực để phò trì; khiến tật bệnh mau lành, thân thể khỏe mạnh. Ngưỡng trông Phật Thánh chứng minh. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Tam Giới (s: trayo dhātava, p: tisso dhātuyo, 三界): Ba Cõi, có nhiều ý nghĩa khác nhau. (1) chỉ ba cõi mà chúng sanh đang sống gồm Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界), Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界) và Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界). Chúng hữu tình mê vọng lưu chuyển trong vòng sanh tử biến hóa, tùy theo cảnh giới mà chia thành 3 giai cấp khác nhau. Nó còn được gọi là Tam Hữu (三有). Tam Giới là lãnh vức mê khổ của chúng sanh, như biển lớn không có giới hạn, nên được gọi là Khổ Giới (苦界, Cõi Khổ), Khổ Hải (苦海, Biển Khổ). Dục Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình đầy dâm dục, tình dục, sắc dục, tham dục, v.v. Cõi nầy bao gồm trên từ cõi trời thứ 6 Tha Hóa Tự Tại Thiên (他化自在天), giữa có bốn châu lớn của con người và dưới đến Vô Gián Địa Ngục (無間地獄), v.v. Do vì nam nữ cùng sống chung với nhau, nhiễm các mong muốn, nên gọi là Dục Giới. Cõi Dục Giới có Địa Cư (s: Bhauma, 地居), Hư Không Cư (s: Āntarikavāsina, 虛空居), Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturahārājakāyika, 四天王天, gồm Trì Quốc Thiên [s: Dhṛtarāṣṭra, 持國天], Tăng Trưởng Thiên [s: Virūhaka, 增長天], Quảng Mục Thiên [s: Virūpāka, 廣目天] và Đa Văn Thiên [s: Vaiśrāmana, 多聞天]), cùng Đao Lợi Thiên (s: Trāyastriśa, 忉利), Tu Dạ Ma Thiên (s: Yāma, 須夜摩天), Đâu Suất Thiên (s: Tuita, 兜率), Hóa Lạc Thiên (s: Nirmāarati, 化樂), Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Parmanirmitavaśavartin, 他化自在天). Sắc Giới, sắc ở đây có nghĩa là thị hiện (hiện rõ), là thế giới cư trú của chúng hữu tình đã xa lìa được dâm dục, thực dục và có đầy đủ sắc chất thanh tịnh. Cõi nầy nằm trên Dục Giới, không có dục nhiễm, cũng chẳng có hình nữ; chúng sanh ở đây đều do hóa sanh mà có. Cung điện tại đây cao lớn, do sắc hóa sanh, nên hết thảy đều đặc biệt, khác thường. Do vì cõi nầy còn có sắc chất nên được gọi là Sắc Giới. Căn cứ vào Thiền định sâu cạn, thô tế mà cõi nầy được chia thành 4 cấp khác nhau, từ Sơ Thiền Phạm Thiên (初禪梵天) cho đến A Ca Nị Tra Thiên (阿迦膩吒天), có 28 cõi trời. Sơ cấp có Sơ Thiền Thiên (初禪天, gồm Phạm Thiên [s: Brahmakaya, 梵天], Phạm Chúng Thiên [s: Brahmapāradya, 梵衆天], Phạm Phụ Thiên [s: Brahmapurohita, 梵輔天] và Đại Phạm Thiên [s: Mahābrahmā, 大梵天]); Nhị Thiền Thiên (禪天, gồm Thiểu Quang Thiên [s: Parittābha, 少光], Vô Lượng Quang Thiên [s: Apramāābha, 無量] và Quang Âm Thiên [s: Ābhāsvara, 音天]); Tam Thiền Thiên (, gồm Thiểu Tịnh Thiên [s: Parittaśubha, 淨天], Vô Lượng Tịnh Thiên [s: Apramāṇaśubha, 無量淨天] và Biến Tịnh Thiên [s: Śubhakṛtsna, 淨天]); Tứ Thiền Thiên (, gồm Vô Vân Thiên [s: Anabhraka, 無雲天], Phước Sanh Thiên [s: Puyaprasava, 福生天] và Quảng Quả Thiên [s: Bhatphala, 廣果天]); và Tịnh Phạm Thiên (淨梵天, gồm Vô Tưởng Thiên [s: Avha, 無想天], Vô Phiền Thiên [s: Atapa, 無煩天], Vô Nhiệt Thiên [s: Sudrśa, 無熱天], Thiện Kiến Thiên [s: Sudarśana, 善見天], Sắc Cứu Cánh Thiên [s: Akaniṣṭha, 色究竟], Hòa Âm Thiên [s: Aghaniṣṭha, 和音天] và Đại Tự Tại Thiên [s: Mahāmaheśvara, 大自在天]). Vô Sắc Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình không có vật chất mà chỉ có 4 tâm là Thọ (), Tưởng (), Hành () và Thức (). Cõi nầy không có vật chất, thân thể, cung điện, quốc độ gì cả; chỉ lấy tâm thức mà trú trong Thiền định sâu xa vi diệu; nên có tên gọi như vậy. Trong Vô Sắc Giới, có 4 cõi trời (Không Vô Biên Xứ [s: Akāśānantyāyatana, 空無邊處], Thức Vô Biên Xứ [s: Vijñānānantyāyatana, 識無邊處], Vô Sở Hữu Xứ [s: Ākiñcanyāyatana, 無所有處] và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ [s: Naivasajñānāsajñāyatana, 非想非非想處]), được gọi là Tứ Vô Sắc (四無色), Tứ Không Xứ (四空處). Quả báo, khổ vui, v.v., trong Tam Giới tuy có khác nhau; nhưng cả 3 đều thuộc vào cõi mê lầm, nên chúng sanh trong đó đều phải chịu sự chi phối của quy luật luân hồi sanh tử. Vì vậy, bậc thánh thường xa rời ba cõi nầy. Trong Phẩm Thí Dụ (喩品) của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Tam Giới vô an, do như hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khả bố úy (三界無安、猶如火宅、衆苦充滿、甚可怖畏, Ba Cõi không an, giống như nhà lửa, các khổ đầy ắp, rất đáng sợ hãi)”. Bên cạnh đó, Phẩm Hóa Thành Dụ (化城喩品) của kinh nầy cũng diễn tả rằng: “Năng ư Tam Giới ngục, miễn xuất chư chúng sanh (能於三界獄、勉出諸衆生, có thể nơi ngục của Ba Cõi, làm cho các chúng sanh ra khỏi)”. Như vậy, kinh nầy muốn cho mọi người thấy rõ rằng Tam Giới không phải là thế giới an ổn thật sự, nên phải thường cầu mong thoát khỏi thế giới ấy. (2) Tam Giới chỉ cho ba con đường đối trị của giải thoát, gồm: Đoạn Giới (斷界), Ly Giới (離界) và Diệt Giới (滅界). Đoạn Giới là đoạn trừ Cửu Kết (九結, 9 loại phiền não), trong đó trừ Tham ra, còn lại 8 thứ kia đều đoạn trừ, hoặc đoạn trừ Vô Minh Kết (無明結, sự ràng buộc của vô minh). Ly Giới là đoạn trừ phiền não của Tham, hay đoạn trừ Ái Kết (愛結, sự ràng buộc của ái). Diệt Giới là đoạn diệt Hữu Lậu (有漏) và các pháp Hữu Vi (有爲), v.v. (3) Chỉ Sắc Giới (色界), Vô Sắc Giới (無色界) và Tận Giới (盡界). (4) Chỉ Pháp Giới (法界), Tâm Giới (心界) và Chúng Sanh Giới (衆生界). Trong Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義), hồi thứ 26 có đoạn: “Siêu xuất Tam Giới ngoại, bất tại Ngũ Hành trung (超出三界外不在五行中, vượt ra ngoài Ba Cõi, chẳng ở trong Năm Hành).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) cũng có đoạn rằng: “Tam Giới nghiệp báo, duy tâm sở sanh, bổn nhược vô tâm, ư Tam Giới trung, tức xuất Tam Giới; kỳ Tam Giới giả, tức Tam Độc giả; Tham vi Dục Giới, Sân vi Sắc Giới, Si vi Vô Sắc Giới; cố danh Tam Giới (三界業報唯心所生本若無心於三界中卽出三界其三界者三毒也欲界色界無色界故名三界, nghiệp báo của Ba Cõi, do tâm sanh ra, nếu vốn không tâm, ở trong Ba Cõi, tức ra Ba Cõi; Ba Cõi ấy tức là Ba Độc; Tham là Cõi Dục, Sân là Cõi Sắc, Si là Cõi Vô Sắc; nên gọi là Ba Cõi).”
  2. Y Vương (醫王): vua của các thầy thuốc, tiếng tôn xưng dành cho chư Phật và Bồ Tát. Quý ngài thường trị tâm bệnh của chúng sanh, nên người ta dùng vị lương y để ví dụ cho quý ngài. Vì từ vô thỉ cho đến ngày nay hàng phàm phu bị trầm luân trong Ba Đường, khó được giải thoát; cho nên chư Phật và Bồ Tát phát khởi tâm đại bi, biết rõ phiền não căn bản chính là nguồn gốc sanh, lão, bệnh, tử của tất cả chúng sanh, vì vậy quý ngài tùy theo căn cơ, nhân duyên để hóa độ cho chúng sanh được lợi ích và giải thoát. Cũng giống như vị lương y trong đời, có thể khéo chẩn đoán người bệnh, biết chứng bệnh của người đó để điều trị. Trong quyển 15 của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經), Y Dụ Kinh (醫喩經) có đề cập đến Bốn Pháp Thành Tựu của một vị vua của các thầy thuốc như: (1) Biết rõ bệnh; (2) Biết rõ nguồn gốc bệnh; (3) Biết rõ sự đối trị cho căn bệnh ấy; (4) Khéo chữa trị cho lành bệnh. Hơn nữa, vị ấy cũng phải biết khả năng cũng như nhân duyên có thể tái phát của căn bệnh ấy để chữa cho dứt hẳn. Kinh nầy ví dụ sự thành tựu 4 pháp của vị Y Vương cũng giống như sự thành tựu Tứ Đức của chư Như Lai. Các ngài xuất hiện giữa cõi đời, diễn thuyết pháp Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦) gồm Khổ, Tập, Diệt và Đạo để điều trị căn bệnh của tất cả chúng sanh. Ngoài ra, quyển 22 của Đại Trí Độ Luận (s: Mahāprajñāpāramitopadeśa[-śāstra], 大智度論, Taishō 25) cũng có thí dụ nổi tiếng như: “Phật như Y Vương, Pháp như lương dược, Tăng như chiêm bệnh nhân, Giới như phục dược cấm kỵ (佛如醫王、法如良藥、僧如瞻病人、戒如服藥禁忌, Phật như vua của các thầy thuốc, Pháp như phương thuốc hay, Tăng như người chăm sóc bệnh nhân, Giới như sự cấm kỵ khi dùng thuốc).” Hay như trong bài Thê Sản Tử (妻產死) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語, CBETA No. 1277) quyển 6 có câu: “Nguyệt trầm hương cáp nhân hà tại, vụ thảm minh quan lộ cánh trường, hồn phách tưởng quy vu hạp khứ, tảo hồi Đâu Suất lễ Y Vương (月沉香閤人何在霧慘冥關路更長魂魄想歸巫峽去早回兜率禮醫王, trăng lặn gác hương người đâu tá, sương thảm cửa u nẻo thêm dài, hồn phách những quy khe suối vắng, mau về Đâu Suất lễ Y Vương).”
  3. Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身): tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân (s: sambhogakāya, 報身) và Ứng Thân (s: nirmānakāya, 應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như, còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (覺性, tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (覺相, tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (覺用, sự diệu dụng của giác ngộ). Hơn nữa, Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân (三法身, ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân (法化生身), Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身) và Thật Tướng Pháp Thân (實相法身). Pháp Hóa Sanh Thân là hóa thân Phật do pháp tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp Thân là thân thể có 5 phần công đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp Thân là thật tướng của các pháp vốn có tánh Không. Bên cạnh đó, cũng có Tam Pháp Thân do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân (空法身, Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân (卽假法身, Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân (卽中法身, Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải (念佛起緣彌陀觀偈直解, CBETA No. 1195) có giải thích về Pháp Thân rằng: “Pháp Thân giả, tức Như Lai Tạng Đại Niết Bàn thể, sanh diệt tâm diệt, chơn như tâm hiện, tức danh Pháp Thân; thử thân vô dộ khả lai, vô độ khả khứ, bổn Pháp Giới Thân, châu biến nhất thiết (法身者如來藏大涅槃體生滅心滅如心現名法身此身無土可來無土可去本法界身周遍一切, Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm chơn như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân nầy không quốc độ nào có thể đến, không quốc độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả).”
  4. Đại Giác (大覺): sự giác ngộ lớn, chỉ sự giác ngộ của đức Thế Tôn (世尊). Đây là tên gọi khác của chư Phật. Người phàm phu thì không có sự giác ngộ, tỉnh thức; còn các vị Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) thì có giác ngộ, nhưng không lớn bằng Phật; chỉ có chư Phật mới giác ngộ triệt để chân lý của vũ trụ, nên được xưng tán là Đấng Đại Giác. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō No. 377) quyển Thượng có câu: “Nhĩ thời, tứ chúng nhất thiết chiêm ngưỡng Đại Giác Thế Tôn chơn kim sắc thân, mục bất tạm xả, tất giai khoái lạc (爾時四眾一切瞻仰大覺世尊金色身目不暫捨悉皆快樂, lúc bấy giờ, bốn chúng tất cả đều chiêm ngưỡng thân sắc vàng của đấng Thế Tôn Đại Giác, mắt không hề rời, thảy đều vui mừng).” Hay như trong Triệu Luận Lược Chú (肇論略註, CBETA No. 873) lại có câu: “Vị Như Lai tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, tam giác dĩ viên, cố xưng Đại Giác; nhiên thử Đại Giác, nãi Báo Thân chi xưng (謂如來自覺覺他覺行圓滿三覺已圓故稱大覺然此大覺乃報身之稱, sự tự giác ngộ, giác ngộ cho người khác và thực hành sự giác ngộ tròn đầy của đức Như Lai, ba sự giác ngộ ấy đã viên mãn; nên gọi là sự giác ngộ lớn; do vậy sự giác ngộ lớn nầy là tên gọi của Báo Thân).”
  5. Gia cư phụng Phật (家居奉佛): có nghĩa là trong gia đình đã có thờ Phật rồi. Nếu chưa có bàn thờ, nay mới lập bàn thờ để thờ Phật tạm thời trong khi có đám tang, hiệp kỵ, trai đàn v.v.; nên viết là “gia cư (gia đường) kiến diên (kiến đàn) phụng Phật (家居[家堂]建筵[建壇]奉佛).”
  6. Theo nguyên tắc viết các lòng văn Sớ dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát cũng như thánh hiền, người đứng cúng phải luôn tự xưng mình là đệ tử.
  7. Tam Nghiệp (s: trīni-karmāi, 三業): ba nghiệp gồm thân, miệng và ý. Thân nghiệp (s: kāya-karman, p: kāya-kamma, 身業) là việc làm do thân làm ra, có thiện và ác. Như sát sanh, trộm cắp, tà dâm là nghiệp xấu của thân. Còn nếu không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, v.v., là nghiệp tốt của thân. Khẩu nghiệp (s: vāk-karman, p: vacī-kamma, 口業) là việc làm do miệng làm ra, có thiện có ác khác nhau. Tỷ dụ như nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt là nghiệp xấu của miệng. Và nếu không nói dối, không nói lời ly gián, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt là nghiệp tốt của miệng. Ý nghiệp (s: manas-karman, p: mano-kamma, 意業) là việc làm do ý tạo ra, cũng có thiện và ác. Như tham dục, sân hận, tà kiến là nghiệp không tốt của ý. Và không tham lam, không sân hận, không tà kiến là nghiệp tốt của ý. Ngoài ra, Tam Nghiệp còn có nghĩa là Thiện Nghiệp (善業, hành vi tạo tác mang tính tốt, lương thiện), Ác Nghiệp (惡業, hành vi tạo tác mang tính xấu, thấp kém) và Vô Ký Nghiệp (無記業, hành vi tạo tác không thể phân biệt, chẳng thuộc về thiện và ác). Hay Tam Nghiệp là Lậu Nghiệp (漏業, tác nghiệp có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phần Đoạn Sanh Tử, thuộc về hành vi tạo tác của phàm phu), Vô Lậu Nghiệp (無漏業, tác nghiệp không có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phương Tiện Hữu Dư Độ, thuộc về tác nghiệp của hàng Nhị Thừa Thanh Văn và Duyên Giác) và Phi Lậu Phi Vô Lậu Nghiệp (非漏非無漏業, tác nghiệp không thuộc về hữu lậu và vô lậu, có thể chiêu cảm quả báo Thật Báo Độ, là tác nghiệp của Bồ Tát). Như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, CBETA No. 1085) có giải thích rằng: “Giới chi nhất tự thị danh, Phạn vân Thi La, diệc vân Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa đẳng, thử vân thanh lương, diệt Tam Nghiệp chi quá khiên, đắc giải thoát dã (戒之一字是名梵云尸羅亦云毗尼波羅提木叉等此云清涼滅三業之過愆得解脫也, một chữ Giới là tên gọi, tiếng Phạn là Thi La, còn gọi là Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa, v.v.; Tàu gọi là trong mát, diệt các tội lỗi của Ba Nghiệp, được giải thoát).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) có câu: “Kim trì giới chi yếu, tiên tu Tam Nghiệp thanh tịnh, tắc tâm tự tịnh (今持戒之要先須三業清淨則心自淨, nay điều côt yếu của việc giữ giới là trước hết phải Ba Nghiệp trong sạch, tức tâm tự trong sạch).”
  8. Lục Căn (s: a-indriyāi, 六根): hay còn gọi là Lục Tình (六情), tức 6 cơ quan cảm giác hay năng lực nhận thức, là Sáu Xứ trong Mười Hai Xứ, Sáu Căn Giới trong Mười Tám Giới. Căn (s, p: indriya, ) có nghĩa là cơ quan nhận thức. Sáu Căn gồm (1) Nhãn (s: cakṣus, p: cakkhu, , mắt, cơ quan và năng lực thị giác); (2) Nhĩ (s: śrotra, śrotas, p: sota, , tai, cơ quan và năng lực thính giác); (3) Tỷ (s: ghrāa, p: ghāna, , mũi, cơ quan và năng lực khứu giác); (4) Thiệt (s: jihvā, p: jivhā, , lưỡi, cơ quan và năng lực vị giác); (5) Thân (s, p: kāya, , thân thể, cơ quan và năng lực xúc giác); và (6) Ý (s: mana, p: mano, manas, , ý, cơ quan và năng lực tư duy). Năm Căn đầu được gọi là Ngũ Căn (五根), thuộc về sắc pháp, có 2 loại: cơ quan sinh lý là Phù Trần Căn (浮塵根, hay Thô Sắc Căn [粗色根]), tức 5 căn nầy hiện hình trạng ra bên ngoài; còn Ý Căn là nơi nương tựa của tâm để sanh khởi tâm lý, nương vào Phù Trần Căn để có thể phát sinh tác dụng thấy, nghe, hiểu biết, v.v.; có tên là Thắng Nghĩa Căn (勝義根, hay Tịnh Sắc Căn [淨色根]). Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō No. 945) quyển 6 có dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh, Lục Thức tạo nghiệp, sở chiêu ác báo, tùng Lục Căn xuất (一切眾生六識造業所招惡報從六根出, hết thảy chúng sanh, Sáu Thức tạo nghiệp, ác báo nhận lấy, do Sáu Căn ra).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có giải thích về Lục Căn thanh tịnh rằng: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh đạt bỉ ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn; cố danh Ba La Mật (六波羅蜜者卽淨六根也胡名波羅蜜漢名達彼岸以六根清淨不染六塵卽是度煩惱河至菩提岸故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Ấn Độ gọi là Ba La Mật, người Trung Quốc gọi là qua bờ bên kia; do Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; nên được gọi là Ba La Mật).” Hoặc trong bài Di Sơn Phát Nguyện Văn (怡山發願文) của Thiền Sư Di Sơn Kiểu Nhiên (怡山皎然, ?-?) nhà Đường cũng có câu: “Đệ tử mỗ giáp, tự vi chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tùy sanh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thanh nhi tham nhiễm; Thập Triền Thập Sử, tích thành Hữu Lậu chi nhân; Lục Căn Lục Trần, vọng tác vô biên chi tội (弟子某甲自違枉入迷流隨生死以飄沈逐色聲而貪染十纏十使積成有漏之因六根六塵妄作無邊之罪, đệ tử …, tự sai chơn tánh, lầm nhập dòng mê, theo sanh tử để thăng trầm, đắm sắc thanh mà tham nhiễm; Mười Triền Mười Sử, tích thành Hữu Lậu nhân sâu, Sáu Căn Sáu Trần, lầm tạo vô biên tội lỗi).”
  9. Tứ Sanh (s: catarso-yonaya, p: catasso yoniyo, 四生): bốn hình thức sinh sản của chúng hữu tình trong Ba Cõi, Sáu Đường, gồm có Noãn Sanh (s, p: aṇḍaja-yoni, 卵生), Thai Sanh (s: jarāyujā-yoni, p: jalābu-yonija, 胎生), Thấp Sanh (s: sasvedajā-yoni, p: saseda-yonija, 濕生) và Hóa Sanh (s: upapādukā-yoni, p: opapātika-yonija, 化生). Noãn Sanh là loài sanh ra từ trứng như gà, rắn, cá, kiến, v.v. Thai Sanh là loài hữu tình được sanh ra từ thai mẹ như người, voi, ngựa, trâu, khỉ, lợn, dê, v.v. Thấp Sanh là loài sanh ra từ những nơi khí ẩm thấp như nhà xí hôi hám, thịt thối, cỏ cây, v.v., như sâu bọ, mối, v.v. Hóa Sanh là loài do biến hóa mà sanh ra như chúng hữu tình trên cõi trời hay dưới Địa Ngục, hay như con lăn quăn hóa thành muỗi mòng, con tằm hóa bướm, v.v. Như trong Từ Bi Địa Tạng Sám Pháp (慈悲地藏懺法, CBETA No. 1487) quyển Thượng có câu: “Tùy thuận vọng tập, vãng phục Tứ Sanh, nghịch sanh tử lưu, mê luân khổ hải, vô giải thoát kỳ (隨順妄習往復四生逆生死流迷淪苦海無解脫期, theo thói quen sai, qua lại bốn loài, ngược dòng sanh tử, trầm luân biển khổ, không kỳ giải thoát).”
  10. Lục Đạo (s: a-gati, j: rokudō, 六道): hay còn gọi là Lục Thú (六趣), là 6 thế giới trong đó chúng sanh luân hồi lưu chuyển sanh tử do nghiệp nhân thiện ác mình đã từng tạo ra, gồm có Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄), Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), Súc Sanh (s; tiryagoni, p: tiracchāna, 畜生), Tu La (s, p: asura, 修羅), Con Người (s: manuya, p: manussa, 人間) và Cõi Trời (s, p: deva, ). Cũng có truyền thừa theo thứ tự Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và quan điểm gộp chung Tu La vào Địa Ngục để trở thành Ngũ Đạo (五道). Gati vốn phát xuất từ động từ √gam, nguyên ý là “sự đi, con đường”, được dịch là “đạo ()” hay “thú ()”; tuy nhiên, trường hợp Lục Đạo thì có nghĩa là “cảnh giới, trạng thái sinh tồn”. Kết hợp với Tứ Sanh (四生), có dụng ngữ Lục Đạo Tứ Sanh (六道四生). Lục Đạo là tông thể phân loại về 4 hình thức sanh ra gồm thai sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh, từ đó nó bao quát hết toàn bộ tồn tại luân hồi. Luân hồi trong Lục Đạo được gọi là Lục Đạo Luân Hồi (六道輪廻). Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc dưới thời Hậu Hán, quan niệm về Luân Hồi và Lục Đạo được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội nước nầy và trở thành tác động to lớn đối với người dân Trung Quốc vốn mang chủ nghĩa hiện thế trung tâm. Đặc biệt, sức mạnh báo động có hình ảnh Địa Ngục đã sản sinh ra những đồ hình biến tướng của Địa Ngục vốn miêu tả thảm cảnh ở cõi nầy, các Minh Báo Ký (冥報記) lưu truyền những câu chuyện bị đọa xuống Địa Ngục, hay văn học truyền khẩu, v.v; và tạo ảnh hưởng rộng rãi cho mỹ thuật cũng như văn học. Chính Đạo Giáo cũng lấy tư tưởng Lục Đạo của Phật Giáo để hình thành nên quan niệm Lục Đạo tương tợ như vậy. Hơn nữa, quan niệm cho rằng phạm tội ở đời nầy sẽ bị luân hồi trong Lục Đạo đã trở thành cơ duyên làm cho mọi người thức tỉnh về tội nghiệp của tự thân; cho nên, dưới thời đại Nam Bắc Triều, rất nhiều bản văn sám hối cầu nguyện cho tội lỗi tiêu trừ đã được sáng tác ra. Khi tư tưởng mạt pháp từ cuối thời Nam Bắc Triều cho đến thời Tùy Đường được quảng bá, niềm tin về đức A Di Đà Phật (阿彌陀佛), Địa Tạng (地藏), Quan Âm (觀音) cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh khổ bị luân hồi trong Lục Đạo trở nên rất thịnh hành. Từ thời Ngũ Đại cho đến nhà Tống, trên các bức bích họa ở động Đôn Hoàng (敦煌) thỉnh thoảng xuất hiện hình Lục Đạo. Trong Thiên Thai Tông, tín ngưỡng về Lục Quan Âm (六觀音) được phối trí theo từng cảnh giới của Lục Đạo cũng khá phổ biến. Tại Nhật Bản, từ Lục Đạo, Địa Ngục, v.v., xuất hiện đầu tiên trong Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記, Nihonryōiki), nếu so sánh thì quan niệm về Lục Đạo rất lạc quan. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 10, theo đà băng hoại của Chế Độ Luật Lịnh, trong những biến động và chiến loạn của xã hội, tư tưởng mạt pháp và quán sát vô thường càng mạnh hơn thêm; từ đó, quan niệm về Lục Đạo trở nên nghiêm trọng hơn. Đặc biệt, trong phần Lục Đạo Giảng Thức Vãng Sanh (六道講式徃生) của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) cũng như Nhị Thập Ngũ Tam Muội Thức (二十五三昧式), Nguyên Tín (源信, Genshin) có miêu tả về sự khủng khiếp của Lục Đạo và đã tạo ảnh hưởng khá lớn cho văn học cũng như mỹ thuật. Do đó, Bảo Vật Tập (寶物集, Hōbutsushū) nói về nỗi khổ của Lục Đạo và khai thị 12 cửa vãng sanh, Bình Gia Vật Ngữ (平家物語, Heikemonogatari) lấy sự sa thải của Lục Đạo trong Quán Đảnh Quyển (灌頂巻) để làm nội dung cho toàn quyển, hay Phương Trượng Ký (方丈記, Hōjōki) làm cho liên tưởng đến những nghiệp khổ trong ác đạo thông qua các thiên tai như hỏa tai, gió lớn, nghèo đói, động đất, v.v., đều là những tác phẩm có ảnh hưởng sâu đến tư tưởng Lục Đạo. Mặt khác, từ giữa và cuối thời Bình An trở đi, các bức tranh bình phong cũng như tranh vẽ về Lục Đạo được phổ biến rộng rãi. Hiện còn lại một số tác phẩm tiêu biểu như Địa Ngục Thảo Chỉ (地獄草紙, Jigokusōshi), Ngạ Quỷ Thảo Chỉ (餓鬼草紙, Gakisōshi), Bệnh Thảo Chỉ (病草紙, Yamaisōshi), v.v., thuộc hậu bán thế kỷ 12. Hơn nữa, vào thời kỳ biến động và chiến loạn, tín ngưỡng về Lục Quan Âm cũng như Địa Tạng phát triển rộng khắp. Đặc biệt, Địa Tạng được gọi là “bậc có thể hóa độ chốn Lục Đạo”, đến thế kỷ thứ 11 thì tín ngưỡng Lục Địa Tạng cho rằng ngài có mặt khắp các cõi để cứu độ hết thảy chúng sanh, được hình thành. Đến cuối thời Liêm Thương trở đi, kết hợp với Thần Tạ Ơn, Thần Tổ Đạo, tại các ngã tư đường cũng như cửa vào mộ địa, người ta có đặt 6 bức tượng Địa Tạng. Những ngã tư như vậy được xem như là nơi người chết phân chia theo sáu đường, cho nên có tên gọi là “Ngã Tư Lục Đạo.Như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, CBETA No. 21) có câu: “Bi tăng phổ hóa thị uy linh, Lục Đạo luân hồi bất tạm đình, giáo hóa yếm khổ tư an lạc, cố hiện Diêm La Thiên Tử hình (悲增普化示威靈六道輪迴不暫停敎化厭苦思安樂故現閻羅天子形, buồn thêm hóa độ hiện oai linh, sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng, giáo hóa bỏ khổ vui an lạc, nên hiện Diêm La Thiên Tử hình).”
  11. Ngũ Tạng (五臟): năm thứ nội tạng gồm tim, thận, phổi, gan, mật. Chúng còn được gọi là Ngũ Nội (五內), chỉ chung cho cả cơ thể con người.
  12. Tứ chi (四肢): hai tay và hai chân.
  13. Đại Thừa (s, p: Mahāyāna, j: Daijō, 大乘): âm dịch là Ma Ha Diễn (摩訶衍), Ma Ha Diễn Na (摩訶衍那), nghĩa là cỗ xe lớn, thường chỉ cho Bồ Tát Thừa (菩薩乘) và Phật Thừa (佛乘), đối với Tiểu Thừa (小乘) là Thanh Văn Thừa (聲聞乘), cỗ xe nhỏ. Đối với Tiểu Thừa thì tu Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhagika-magga, 八正道) và Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), trở thành A La Hán (s: arhant, p: arahant, 阿羅漢); còn Bồ Tát Thừa của Đại Thừa thì tu Lục Ba La Mật (六波羅蜜) và nhắm mục đích thành Phật. Hơn nữa, ngay từ ban đầu Bồ Tát Thừa của Đại Thừa đã phát thệ nguyện lợi tha, tự mình khởi tâm tự mình chưa độ mà trước hết vào trong các đường ác để độ người khác.
  14. Thông thường trong các lễ Cầu An tại tư gia hay tự viện, một số kinh được trì tụng như Phổ Môn (普門), Dược Sư (藥師), Thủy Sám (水懺), Lương Hoàng Sám (梁皇懺), v.v. Tuy nhiên, tùy theo sự phát nguyện của Trai Chủ (gia chủ) hoặc sự chỉ dẫn của chư tăng, các kinh khác cũng được trì tụng trong lễ nầy. Phần nầy để ghi vào tên các kinh như vậy.
  15. Gọi đủ là Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni (消災吉祥陀羅尼). Như tên gọi của nó, tương truyền rằng thần chú nầy có công năng làm cho cát tường, tiêu trừ mọi tai ách, hoạn nạn, và đặc biệt có hiệu lực rất lớn trong việc trấn hộ các thiên tai, địa biến. Tên gọi chính xác của nó là Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni (熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼), còn gọi là Đại Hỏa Luân Kim Cang Chú (大火輪金剛咒), Xí Thạnh Quang Phật Đảnh Chơn Ngôn (熾盛光佛頂眞言). Ở Nhật Bản, đặc biệt Phái Sơn Môn (山門派) của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) thuộc Thiên Thai Tông (天台宗, Tendai-shū) thì rất coi trọng thần chú nầy. Một số tư liệu Hán dịch về thần chú nầy như Phật Thuyết Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni Kinh (佛說熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼經, Taishō No. 963) do Đường Bất Không (s: Amoghavajra, 不空, 705-774) dịch; Phật Thuyết Đại Uy Đức Kim Luân Phật Đảnh Xí Thạnh Quang Như Lai Tiêu Trừ Nhất Thiết Tai Nạn Đà La Ni Kinh (佛說大威德金輪佛頂熾盛光如來消除一切災難陀羅尼經, Taishō No. 964), thất dịch; Đại Diệu Kim Cang Đại Cam Lồ Quân Noa Lợi Diệm Man Xí Thạnh Phật Đảnh Kinh (大妙金剛大甘露軍拏利焰鬘熾盛佛頂經, Taishō No. 965), Đường Đạt Ma Sài Na (達磨栖那) dịch; Đại Thánh Diệu Cát Tường Bồ Tát Thuyết Trừ Tai Giáo Lịnh Pháp Luân (大聖妙吉祥菩薩說除災敎令法輪, Taishō No 966). Nội dung của thần chú nầy bằng nguyên bản Sanskrit là nama samanta-buddhānāṃ, apratihataśāsanānāṃ, tad yathā, O kha kha khāhi khāhi hū jvala jvala prajvala prajvala tiṣṭha tiṣṭha ṣṭri ṣṭri sphusphu śāntikaśrīye svāhā (Con xin quy y chư Phật mà lời dạy của quý ngài biến mãn vô ngại. Tức là, O [Án]. Hỡi hư không ! Hỡi hư không ! Hãy tiêu diệt ! Hū [hồng] ! Hū [hồng] ! Hãy tỏa sáng ! Hãy tỏa sáng ! Hãy khéo tỏa sáng ! Hãy khéo tỏa sáng ! Hãy dừng lại ! Hãy dừng lại ! Hỡi các vì sao ! Hỡi các vì sao ! Hãy xuất hiện ngay ! Hãy xuất hiện ngay ! Để tiêu tai cát tường. Svāhā [ta phạ ha] !). Bản dịch âm Hán ngữ (theo bản của Phật Thuyết Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni Kinh) là “Nẵng mồ tam mãn đa, một đà nẫm, a bát ra để hạ đa xá ta na nẩm, đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, tát phổ tra, tát phổ tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ hạ.” Thần chú nầy thường được tụng chung với Thập Chú trong thời công phu khuya và dùng trong các khóa lễ Cầu An.
  16. Chú (): ngôn ngữ bí mật có năng lực linh ứng đặc biệt, không thể lấy ngôn ngữ bình thường để giải thích được, là câu văn bí mật dùng xướng tụng trong khi cầu nguyện, còn gọi là thần chú (神呪), mật chú (), chơn ngôn (眞言). Nguyên lai từ chú () là chúc (), là mật ngữ dùng tụng niệm hướng về chư vị thần linh cầu đảo, tuyên cáo khiến cho kẻ oán địch bị tai họa, hay mong muốn tiêu trừ ách nạn, cầu mong được lợi ích. Trong kinh Phệ Đà (s: veda, 吠陀) xưa của Ấn Độ đã có chú thuật rồi. Theo quyển 14 Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經) cho biết rằng đức Thích Tôn đã từng bài bác vấn đề chú thuật; tuy nhiên, quyển 9 của kinh nầy có đề cập việc đức Phật thuyết Chú Hộ Thân (s: parītta, p: paritta, parittā, còn gọi là Hộ Chú [], Hộ Kinh [護經], Chú Văn []) trị rắn độc, cho nên chúng ta biết rõ rằng chú thuật đã được phổ biến ở Ấn Độ từ xa xưa và sau nầy Phật Giáo cũng có dùng đến. Các kinh điển thuộc giáo phái Đại Thừa Hiển Giáo như Bát Nhã (般若), Pháp Hoa (法華), Bảo Tích (寶積), Đại Tập (大集), Kim Quang Minh (金光明), Lăng Già (楞伽), v.v., đều có Phẩm Đà La Ni (陀羅尼品) nêu rõ những câu thần chú. Đặc biệt Mật Giáo rất chú trọng đến mật chú, cho rằng chú là biểu thị cho “pháp nhĩ thường nhiên (法爾常然, pháp vốn thường như vậy)”; cho nên nếu tụng đọc, quán tưởng mật chú, hành giả có thể được lợi ích thành Phật. Thần chú được thuyết trong các kinh điển thì nhiều vô cùng, tỷ dụ như Thủy Hỏa Chú (水火), An Trạch Phù Chú (安宅符), Sát Lợi Chú (刹利), v.v., trong A Ma Trú Kinh (阿摩晝經) thuộc quyển 13 hay Phạm Động Kinh (梵動經) trong quyển 14 của Trường A Hàm (長阿含). Trong Tứ Phần Luật (四分律) quyển 27, Thập Tụng Luật (十誦律) quyển 46, v.v., có các chú trị bệnh trùng trong ruột, chú hàng phục ngoại đạo, v.v. Hay một số chú khác như Bà La Môn Chú (婆羅門), Thủ Đà La Thần Chú (首陀羅神), Đại Phạm Thiên Vương Bà Tỳ La Chú (大梵天王婆毘羅), v.v., trong phẩm Chúng Tướng Vấn (眾相問) của Ma Đăng Già Kinh (摩登伽經) quyển thượng, v.v. Ngoài ra, trong quyển 4 của Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) có Quán Đảnh Thất Vạn Nhị Thiên Thần Vương Hộ Tỳ Kheo Chú Kinh (觀頂七萬二天神王護比丘), Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Thần Chú (摩訶般若波羅蜜神), Thập Bát Long Vương Thần Chú Kinh (十八王神), Chú Củ Xỉ (齲齒), Thập Nhị Nhân Duyên Kết Lũ Thần Chú (十二因緣結), Uy Đức Đà La Thần Chú (威德陀羅神), v.v., mỗi thứ 1 quyển. Thần chú có 2 loại, lành và dữ. Loại thần chú lành thường được dùng để chữa bệnh hay hộ thân; thần chú dữ dùng để bùa yểm người khác, khiến cho họ bị tai họa. Trong Phẩm Phổ Môn thuộc quyển 7 của Pháp Hoa Kinh (法華經), quyển 57 của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), quyển 4 của Thập Địa Kinh (十地經), v.v., có đề cập đến loại thần chú dữ nầy. Đức Thế Tôn cấm chỉ hàng đệ tử tu tập chú thuật, sử dụng nó để mưu sinh, mà chỉ cho phép dùng chú để trị bệnh hay hộ thân mà thôi. Thông thường từ mantra được dịch là chú (). Hiện tồn bản tiếng Sanskrit của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經), Đà La Ni Nhập Lăng Già Kinh (陀羅尼入楞伽經) có xuất hiện từ mantra nầy. Thế nhưng, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙) quyển 11 lại dịch từ Pāli vijjāmayāchú. Trong Phẩm Đà La Ni thuộc quyển 7 của Pháp Hoa Kinh dịch từ Sanskrit dhārāīchú. Từ đó, chúng ta thấy rằng từ Hán dịch chú có nhiều nguyên ngữ khác nhau. Bên cạnh đó, dhārāī còn có nghĩa là tổng trì (總持); vidya (p: vijjā) là minh (), thuật (); mantrachơn ngôn. Nghĩa các từ tuy có khác nhau nhưng đã được dùng lẫn lộn nhau. Có khá nhiều vị tăng ngoại quốc truyền Phật Giáo đầu tiên đến Trung Quốc rất sở trường về chú thuật, như trường hợp Đàm Vô Sấm (s: Dharmaraka, 曇無讖, 385-433) được xem như là Đại Chú Sư. Đạo Giáo Trung Quốc từ đó cũng bắt đầu lưu hành chú thuật. Trong Đăng Thiệp Thiên (登涉篇) thuộc quyển 4 Nội Thiên của Bão Phác Tử (抱朴) có phần Lục Giáp Bí Chú (六甲祕), có khả năng khiến cho người trong chiến trận không bị tử thương. Hay trong Thái Thượng Tử Vi Trung Thiên Thất Nguyên Chân Kinh (太上紫微中天七元眞經, Đạo Giáo quyển 1055) có Bắc Đẩu Thất Tinh Chú (北斗七星), Cơ Tinh Chân Nhân Chân Quân Bảo Mạng Chú (機星眞人眞君保命), v.v. Ngoài ra, trong Thái Thượng Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thuyết Bảo Nguyệt Quang Hoàng Hậu Thánh Mẫu Khổng Tước Minh Vương Kinh (太上元始天尊說寶月光皇后聖母孔雀明王經, Đạo Giáo quyển 1058) có Bí Mật Khu Tà Phân Quỷ Nhân Đạo Chú (祕密邪分鬼人道), v.v., tất cả đều có pha lẫn Phạn ngữ. Cũng giống như vậy, các kinh điển Phật Giáo như Quán Đảnh Kinh (頂經), Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論) quyển 9 có nêu rõ các loại thần chú, Uế Tích Kim Cang Cấm Bách Biến Pháp Kinh (穢跡金剛禁百變法經) thì đề cập đến những loại phù chú, ấn pháp. Tất cả đều có ảnh hưởng đến kinh điển Đạo Giáo. Ngoài ra, Mật Giáo của Nhật Bản cũng sử dụng rất nhiều mật chú.
  17. Tam Thân (s: tri-kāya, 三身): ba loại thân của Phật, gồm có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), Báo Thân (s: sambhoga-kāya, ) và Ứng Thân (s: nirmāa-kāya, ). Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình mà đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như. Báo Thân là thân Phật có tướng tốt hiển hiện tùy theo hạnh nguyện của nhân vị. Ứng Thân là thân Phật hóa hiện ứng theo căn cơ của chúng sanh. Theo Pháp Tướng Tông, Tam Thân là Tự Tánh Thân (自性身), Thọ Dụng Thân (受用身) và Biến Hóa Thân (變化身). Tự Tánh Thân tương đương với Pháp Thân, là thân nương tựa vào Thọ Dụng Thân và Biến Hóa Thân. Thọ Dụng Thân là thân để thọ dụng pháp lạc, gồm có 2 loại: Tự Thọ Dụng Thân (自受用身) và Tha Thọ Dụng Thân (他受用身). Tự Thọ Dụng Thân tương đương với Báo Thân và Tha Thọ Dụng Thân thì ứng với Ứng Thân. Còn Biến Hóa Thân là thân thị hiện đem lại lợi ích cho hàng Bồ Tát trước khi vào Thập Địa cũng như cho chúng sanh. Trong Thiếu Thất Lục Môn (少室六門, Taishō No. 2009) có giải thích về Tam Thân rằng: “Phật hữu Tam Thân giả, Hóa Thân Báo Thân Pháp Thân; nhược chúng sanh thường tác thiện căn, tức Hóa Thân hiện; tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; giác Vô Vi tức Pháp Thân hiện; phi đằng thập phương tùy nghi cứu tế giả, Hóa Thân Phật dã; đoạn cảm tu thiện Tuyết Sơn thành đạo giả, Báo Thân Phật dã; vô ngôn vô thuyết trạm nhiên thường trú giả, Pháp Thân Phật dã (佛有三身者化身報身法身若眾生常作善根化身現修智慧報身現覺無爲卽法身現飛騰十方隨宜救濟者化身佛也斷惑修善雪山成道者報身佛也無言無說湛然常住者法身佛也, Phật có ba thân là Hóa Thân, Báo Thân, và Pháp Thân; nếu chúng sanh thường tạo căn lành, tức Hóa Thân hiện; nếu tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; hiểu rõ Vô Vi tức Pháp Thân hiện; thân bay cùng khắp mười phương, tùy nghi cứu độ là Hóa Thân Phật; thân đoạn trừ các hoặc, tu thiện và thành đạo ở Tuyết Sơn là Báo Thân Phật; thân không nói lời nào, không thuyết lời nào, vắng lặng thường trú là Pháp Thân Phật).” Tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm, thành phố Huế, có câu đối rằng: “Hương lí kết tường vân Tam Thân viên hiển, hoa khai trình diệu tướng Thập Hiệu hùng tôn (香裡結祥雲三身圓顯花開呈妙相十號雄尊, trong hương kết mây lành Ba Thân lộ rõ, hoa nở trình tướng báu Mười Hiệu hùng tôn).”
  18. Hòa Nam (s, p: vandana, 和南): âm dịch là Bạn Thê (畔睇), Bạn Đề (伴題), Bà Nam (婆南), Bàn Đàm (槃談), Bạn Đàm (伴談); ý dịch là kính lễ, cung kính, tôn kính.
  19. Nam Mô (s: namas, p: namo, 南無): âm dịch là Nam Mô (南謨), Nam Mâu (南牟), Na Mô (、那、娜), Nạp Mạc (納莫), Nạp Mộ (納慕), Nẵng Mô (曩謨); ý dịch là kính lễ (敬禮), đảnh lễ (頂禮), quy lễ (歸禮), quy mạng (歸命), quy y (歸依), quy kính (歸敬). Nó thể hiện sự quy mạng, đảnh lễ tuyệt đối vào ba ngôi báu Phật, Pháp và Tăng. Đây là hành vi phát sanh rất tự nhiên, bộc lộ tín tâm vào đối tượng mình quy ngưỡng và tôn sùng.
  20. Dược Sư (s: Bhaiajyaguru, 藥師): nói rõ là Dược Sư Lưu Ly Quang (s: Bhaiajyaguruvaiḍūryaprabha, 藥師瑠璃光), Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (藥師琉璃光王佛), Dược Sư Như Lai (藥師如來), Đại Y Vương Phật (大醫王佛), Y Vương Thiện Thệ (醫王善誓), Thập Nhị Nguyện Vương (十二願王), âm dịch là Bệ Sát Xã Lũ Lô (鞞殺社窶). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (s: Bhaiajyaguruvaiḍūryaprabhāsapūryapraidhāna, 藥師瑠璃光如來本願功德經, Taishō No. 450), ngoài 10 hằng hà sa Phật độ có thế giới gọi là Tịnh Lưu Ly (瑠璃) và giáo chủ của thế giới đó là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Thế giới nầy được gọi là cõi Tịnh Độ ở phương Đông, cũng trang nghiêm như cõi nước Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Trong thời gian hành Bồ Tát đạo, vị Phật nầy có phát 12 lời nguyện lớn và nhờ lời nguyện nầy mà hiện tại ngài thành Phật ở thế giới Tịnh Lưu Ly, có hai vị bồ tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光) thường xuyên hộ trì hai bên. Thệ nguyện của đức Phật nầy không thể nghĩ bàn và sự linh nghiệm của Ngài cũng rất rộng lớn. Nếu có người thân mạng bệnh nặng, hiện tướng sắp chết, bà con quyến thuộc của người ấy tận tâm, chí thành cúng dường, lễ bái Phật Dược Sư, đọc tụng Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh 49 biến, thắp 49 ngọn đèn, tạo tràng phan 5 sắc màu của 49 cõi trời, thì người sắp lâm chung ấy sẽ được sống lại và kéo dài sinh mạng thêm. Cho nên, tín ngưỡng Phật Dược Sư đã thịnh hành từ xa xưa. Về hình tượng của Ngài, theo Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德念誦儀軌供養法, Taishō No. 926) cho biết rằng tay trái Ngài cầm dược khí (còn gọi là Vô Giá Châu [無價珠]), tay phải kết Tam Giới Ấn (三界印), mặc áo Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya, p: kāsāya, kāsāva, 袈裟), ngồi kiết già trên đài hoa sen và dưới đài có 12 vị thần tướng. Các vị thần tướng nầy thệ nguyện hộ trì pháp môn Dược Sư, mỗi vị thống lãnh 7.000 quyến thuộc Dược Xoa (藥叉), tại các nơi hộ trì cho chúng sanh nào thọ trì danh hiệu Phật Dược Sư. Bên cạnh đó, hình tượng được lưu truyền phổ biến nhất về đức Phật nầy là hình có mái tóc xoăn hình trôn ốc, tay trái cầm bình thuốc, tay phải bắt Thí Vô Úy Ấn (施無畏印, hay Dữ Nguyện Ấn [與願印]); có 2 Bồ Tát Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照) và Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照) hầu hai bên, được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊). Hai vị Bồ Tát nầy là thượng thủ trong vô lượng chúng ở cõi Tịnh Độ của Phật Dược Sư. Ngoài ra còn có 8 Bồ Tát khác hầu cận bên Ngài như Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利), Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至), Bảo Đàn Hoa (寶壇華), Vô Tận Ý (s: Akṣayamati, 無盡意), Dược Vương (s: Bhaiajyarāja, 藥王), Dược Thượng (s: Bhaiajyasamudgata, ), Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光七佛本願功德經, Taishō No. 451) do Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường dịch có nêu tên 7 vị Phật Dược Sư, gồm: Thiện Xưng Danh Cát Tường Vương Như Lai (善稱名吉祥王如來), Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai (寶月智嚴光音自在王如來), Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai (金色寶光妙行成就如來), Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai (無憂最勝吉祥如來), Pháp Hải Lôi Âm Như Lai (法海雷音如來), Pháp Hải Tuệ Du Hý Thần Thông Như Lai (法海慧遊戲神通如來) và Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (藥師琉璃光如來). Trong số đó, 6 vị đầu là phân thân của Dược Sư Như Lai. Đức Phật nầy cùng với Thích Ca Mâu Ni Như Lai (釋迦牟尼佛), A Di Đà Phật (阿彌陀佛) được gọi là Hoành Tam Thế Phật (橫三世佛), hay Tam Bảo Phật (三寶佛). Trong Phật Giáo, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật ở phương Đông và A Di Đà Phật ở phương Tây được xem như là hai đấng tối cao giải quyết vấn đề sanh và tử của chúng sanh.
  21. Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音): âm dịch là A Phược Lô Chỉ Để Thấp Phiệt Ra (阿縛盧枳低濕伐邏), cựu ý dịch là Quang Thế Âm (光世音), tân ý dịch là Quán Tự Tại (觀自在), Quán Thế Tự Tại (觀世自在), tên gọi vị Bồ Tát lấy hạnh nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh với lòng từ bi của mình. Do vì ngài thường xuyên ban bố sự không sợ hãi cho mọi người nên được gọi là Thí Vô Úy (施無畏). Theo Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (s: Avatasaka-sūtra, 八十華嚴經), ngài hiện trú tại Bổ Đà Lạc Sơn (s: Potalaka, 補陀洛山) thuộc miền Nam Ấn Độ. Trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), v.v., ngài thường hầu bên đức Phật A Di Đà với Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至). Hơn nữa, trong Đại Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền Đà La Ni Kinh (大清淨觀世音普賢陀羅尼經), ngài thường hầu hạ bên đức Phật Di Đà cùng với Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢). Trong số các vị Bồ Tát của Đại Thừa, cùng với đức Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) có trí tuệ, Phổ Hiền hạnh nguyện rộng khắp, đức Quán Thế Âm là nỗi tiếng nhất, thông qua Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, tín ngưỡng Quan Âm phổ biến rất rộng rãi và các hình tượng điêu khắc cũng như tranh vẽ có rất nhiều. Ngài được xem như là vị Phật có thân biến hóa rộng khắp, cho nên trong Quán Âm Kinh (觀音經) có dạy rằng ngài biến hóa thành 33 thân để cứu độ hết thảy chúng sanh; vì vậy ngài có nhiều tên gọi khác nhau như Thiên Thủ Thiên Nhãn (千手千眼, ngàn tay ngàn mắt), Thập Nhất Diện (十一面, 11 mặt), Chuẩn Đề (准胝), Như Ý Luân (如意輪), Bất Không Quyên Sách (不空羂索), Thanh Cảnh (青頸, cổ xanh), Hương Vương (香王), v.v. Ngoài ra còn có một số tên gọi khác như Thánh Quán Âm (聖觀音), Mã Đầu (馬頭, đầu ngựa), Bạch Y (白衣, áo trắng), Thủy Nguyệt (水月), Dương Liễu (楊柳), Đa La (多羅), Ngư Lam (魚籃, giỏ cá), v.v. Tại Quan Âm Miếu (觀音廟), đền thờ Phục Ba (伏波) ở Lôi Châu (雷州), Tỉnh Quảng Đông (廣東) cũng như tại Quan Âm Tự (觀音寺) ở Bắc Đường (北塘), Thiên Tân (天津) có câu đối tán thán đức Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Phù Dung hoa diện xuân phong noãn, Dương Liễu chi đầu Cam Lồ hương (芙蓉花面春風暖楊柳枝頭甘露香, Phù Dung hoa mặt gió xuân ấm, Dương Liễu nhành đầu Cam Lồ thơm).” Hay như tại Quan Âm Các (觀音閣) của Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Triều Châu (潮州), Tỉnh Quảng Đông có câu đối rằng: “Tử trúc lâm trung vô ngã vô nhân Quán Tự Tại, bạch liên tòa thượng phi tâm phi sắc kiến Như Lai (紫竹林中無我無人觀自在白蓮座上非心非色見如來, Trúc tía rừng trong không ngã không nhân Quán Tự Tại, sen trắng tòa trên chẳng tâm chẳng sắc thấy Như Lai).”
  22. Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩): từ gọi tắt của âm dịch Bồ Đề Tát Đỏa (菩提薩埵), hay Bồ Đề Sách Đa (菩提索多), Mạo Địa Tát Đát Phược (地薩怛縛), Phù Tát (扶薩); ý dịch là Đạo Chúng Sanh (道眾生), Giác Hữu Tình (覺有情), Đại Giác Hữu Tình (大覺有情), Đạo Tâm Chúng Sanh (道心眾生), Đại Sĩ (大士). Nguyên ngữ của nó được kết hợp bởi 2 từ bodhisattva. Từ bodhi (bồ đề[菩提]) có nghĩa là sự khai ngộ, tỉnh thức, được dịch là giác (). Sattva (tát đỏa [薩埵]) nghĩa là sinh vật, nên được dịch là chúng sanh(眾生), hữu tình (有情). Khi hai từ nầy được kết hợp lại với nhau, chúng có nghĩa là người tìm cầu sự giác ngộ hay người có trang bị đầy đủ sự giác ngộ. Đặc biệt, đối với trường hợp của Đại Thừa Phật Giáo, Bồ Tát không phải là người tu hành để tìm cầu sự giác ngộ cho tự thân mình, mà tồn tại trong hiện thực của cuộc đời để tìm cầu chân lý giác ngộ, tu hành thật tiễn (hạnh từ bi lợi tha) cho mọi người trên đời, nỗ lực tinh tấn Tịnh Độ hóa (làm thanh tịnh quốc độ Phật) hiện thực xã hội bằng chân lý giác ngộ. Từ đó, Đại Thừa Phật Giáo phê phán hai thừa Thanh Văn (聲聞) cũng như Duyên Giác (緣覺) vốn thoát ly hiện thực của Phật Giáo Nguyên Thủy, và nhấn mạnh vai trò của Bồ Tát Nhất Thừa (菩薩一乘). Trong các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經), v.v., đôi khi phủ nhận người xuất gia Tiểu Thừa, thay vào đó lập nên hình tượng Bồ Tát. Từ thế giới giác ngộ, vị nầy thể nhập vào cuộc đời, đồng cam cọng khổ với mọi người và tận lực cứu độ chúng sanh. Do đó, nhiều loại Bồ Tát được dựng lên và được tôn thờ trong dân gian. Tỷ dụ như Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音), Bồ Tát Địa Tạng (s: Kitigarbha, 地藏), v.v. Chính vì vậy, việc điêu khắc hình tượng Bồ Tát cũng trở nên thịnh hành. Tại Nhật Bản—đất nước có đặc sắc khẳng định con người và trung tâm hiện thực—ngay từ buổi ban sơ khi Phật Giáo mới được truyền vào, chư vị thần được xem như là chúng sanh mê muội chẳng khác gì con người, cũng có địa vị tối cao như là vị thần của quốc gia hay của dân tộc và dần dần được thánh hóa là Bồ Tát. Trường hợp Bát Phan Đại Bồ Tát (八幡大菩薩) là một thí dụ điển hình. Bên cạnh đó, những con người thực tế như Bồ Tát Hành Cơ (行基, Gyōki, 668-749), v.v., cũng được Bồ Tát hóa để tôn xưng vị tu hành có đạo cao đức trọng. Ở Việt Nam, trường hợp Bồ Tát Thích Quảng Đức cũng như vậy. Tại Từ Bi Đình (慈悲亭) của Lôi Âm Tự (雷音寺), ở Nhiêu Bình (饒平), Tỉnh Quảng Đông (廣東省) có hai câu đối tương truyền do Pháp Sư Định Nhân (定因) sáng tác: “Từ thủy trường lưu Bồ Tát trí quang chiếu chúng khổ, bi tâm vĩnh tại Phật Đà tuệ nhật chứng Tam Không (慈水長流菩薩智光照眾苦悲心永在佛陀慧日證三空, Nước từ chảy mãi Bồ Tát trí sáng chiếu muôn khổ, tâm bi thường tại Phật Đà trời tuệ chứng Ba Không).”
  23. Địa Phủ (地府): còn gọi là Âm Tào Địa Phủ (陰曹地府), chỉ dưới lòng đất, tên gọi khác của Địa Ngục. Tại Trung Quốc, phần lớn các điển tịch thần thoại cổ đại cũng như của Phật Giáo đều có đề cập đến tên gọi Âm Tào Địa Phủ. Người dân Trung Quốc chia thế giới vạn vật làm hai cực: đó là học thuyết âm dương, là thành phần quan trọng của học thuyết cổ đại Trung Quốc; như Trời (dương) và Đất (âm), nam (dương) và nữ (âm), mặt trời (dương) và mặt trăng (âm). Hơn nữa, tại Trung Quốc còn có học thuyết Ba Cõi: trên trời, con người và Địa Ngục. Họ cho rằng mỗi con người đều có linh hồn, 3 hồn hay 7 hồn. Sau khi con người chết đi, trước hết sẽ đọa xuống cõi Âm Tào Địa Phủ để chịu sự xét xử, thọ nhận quả báo, hình phạt; được vị phán quan cõi âm là Diêm La Vương (閻羅王) phán xét. Nếu ai trên dương gian làm việc thiện, tu nhân tích đức, sẽ đắc đạo thành tiên, sanh về cõi trời, được trường sanh bất tử. Nếu người chuyên làm việc ác, sẽ bị trừng phạt trong 18 tầng Địa Ngục dưới Âm Phủ. Người Trung Quốc xưa cho rằng trên trời có Ngọc Hoàng Thượng Đế chưởng quản, ở phương Tây có Phật Tổ Như Lai, trên đời có Hoàng Đế cai trị; còn cõi âm thì có Bồ Tát Địa Tạng (s: Kitigarbha, 地藏) cũng như các vua khác chủ quản. Theo truyền thuyết, người chưởng quan tối cao cõi Địa Phủ là Thiên Tề Nhân Thánh Đại Đế (天齊仁聖大帝), cai quản toàn thể sanh linh vạn vật. Kế đến là Bắc Âm Phong Đô Đại Đế (北陰酆都大帝). Sau đó có các Quỷ Đế (鬼帝, vua quỷ) ở 5 phương: Đông Phương Quỷ Đế Thái Uất Lũy (東方鬼帝蔡鬱壘), còn gọi là Thần Trà (神荼), cai quản Quỷ Môn Quan (鬼門關) ở Đào Chỉ Sơn (桃止山); Tây Phương Quỷ Đế Triệu Văn Hòa (西方鬼帝趙文和), còn gọi là Vương Chân Nhân (王眞人), cai quản Ba Trủng Sơn (嶓塚山); Bắc Phương Quỷ Đế Trương Hành (北方鬼帝張衡), còn gọi là Dương Vân (楊雲), cai quản La Phong Sơn (羅酆山); Nam Phương Quỷ Đế Đỗ Tử Nhân (南方鬼帝杜子仁), cai quản La Phù Sơn (羅浮山); Trung Ương Quỷ Đế Chu Khất (中央鬼帝週乞), còn gọi là Khể Khang (稽康), cai quản Bão Độc Sơn (抱犢山). Bên dưới là 6 vị trời La Phong (羅酆), tức là những vị Thủ Cung Thần (守宮神), gồm: Trụ Tuyệt Âm Thiên Cung (紂絕陰天宮), Thái Sát Lượng Sự Tông Thiên Cung (泰煞諒事宗天宮), Minh Thần Nại Phạm Võ Thành Thiên Cung (明晨耐犯武城天宮), Điềm Chiêu Tội Khí Thiên Cung (恬昭罪氣天宮), Tông Linh Thất Phi Thiên Cung (宗靈七非天宮), Cảm Ty Liên Uyển Lũ Thiên Cung (敢司連宛屢天宮). Tuy nhiên, truyền thuyết cho rằng chốn Âm Tào Địa Phủ là do Thập Điện Diêm La Vương (十殿閻羅王) thống quản: Tần Quảng Vương (秦廣王), Sở Giang Vương (楚江王), Tống Đế Vương (宋帝王), Ngũ Quan Vương (官王), Diêm La Vương (閻羅王), Bình Đẳng Vương (平等王), Thái Sơn Vương (泰山王), Đô Thị Vương (都市王), Biện Thành Vương (卞城王), Chuyển Luân Vương (轉輪王). Dưới Thập Điện Diêm La Vương còn có các vị thần khác như Thủ Tịch Phán Quan Thôi Phủ Quân (首席判官崔府君), Chung Khôi (鍾魁), Hắc Bạch Vô Thường (黑白無常), Ngưu Đầu Mã Diện (牛頭馬面), Mạnh Bà Thần (孟婆神), v.v. Như trong Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō No. 1320) có câu: “Triệu thỉnh thập phương tận hư không giới, Tam Đồ Địa Ngục chư ác thú trung, khoáng kiếp cơ hư nhất thiết Ngạ Quỷ, Diêm La chư ty Thiên Tào Địa Phủ, nghiệp đạo Minh Quan Bà La Môn tiên, cửu viễn tiên vong khoáng dã minh linh, hư không chư Thiên cập chư quyến thuộc dị loại quỷ thần (召請十方盡虛空界三塗地獄諸惡趣中曠劫飢虛一切餓鬼閻羅諸司天曹地府業道冥官婆羅門仙久遠先亡曠野冥靈虛空諸天及諸眷屬異類鬼神, triệu thỉnh mười phương pháp giới khắp hư không, các cõi ác trong Ba Đường Địa Ngục, muôn kiếp đói khát hết thảy Ngạ Quỷ, Diêm La các ty, Thiên Tào Địa Phủ, Bà La Môn tiên quan cõi âm nghiệp đạo, các vong linh qua đời lâu xa của cõi âm nơi đồng trống, chư Thiên trên hư không cùng các quyến thuộc quỷ thần các loại).”
  24. Hộ Pháp (護法): bảo hộ, hộ trì chánh pháp. Tương truyền đức Phật từng phái 4 vị Đại Thanh Văn, 16 vị A La Hán (阿羅漢) đến để hộ trì Phật pháp. Bên cạnh đó, lại có Phạm Thiên (梵天), Đế Thích Thiên (帝釋天), Tứ Thiên Vương (四天王, 4 Thiên Vương), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將, 12 Thần Tướng), 28 bộ chúng, 13 phiên thần, 36 thần vương, 18 thiện thần chốn Già Lam, Long Vương, quỷ thần, v.v., nhân nghe đức Phật thuyết pháp mà thệ nguyện hộ trì Phật pháp. Những vị nầy được gọi là Thần Hộ Pháp, hay Hộ Pháp Thiện Thần (護法善神). Ngoài ra, các bậc đế vương, Đàn Việt, Phật tử đều là những người hộ pháp đắc lực. Trong số các Thần Hộ Pháp, có vị là thiện thần, nhưng cũng có vị là hung thần, ác thần. Họ có trách nhiệm bảo hộ chúng sanh, đầy đủ 4 công đức độ đời là làm cho tiêu trừ mọi tai họa, làm tăng trưởng ích lợi, tạo sự kính mến thương yêu, và hàng phục. Đặc biệt, Quan Vũ (關羽, tức Quan Thánh Đế Quân [關聖帝君]) cũng trở thành Thần Hộ Pháp, sau khi được Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397) dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Tại Vân Môn Tự (雲門寺) ở Nhũ Nguyên (乳源), Tỉnh Quảng Đông (廣東省) có câu đối như sau: “Hộ pháp an tăng bất phụ Linh Sơn phú chúc, hàng ma phục oán toàn bằng bảo chử uy phong (護法安僧不負靈山咐囑降魔伏怨全憑寶杵威風, Hộ pháp an tăng chẳng phụ Linh Sơn phó chúc, hàng ma dẹp oán thảy nhờ chày báu oai phong).” Trong Tây Sương Ký (西廂記) có câu rằng: “Tấm lòng trời Phật chứng tri, kia thì Hộ Pháp, nọ thì tiểu tăng.
  25. Long Thần (s, p.: nāga, ): còn gọi là Long Vương (龍王), một trong 8 bộ chúng, thủ lãnh của rồng. Thông thường người ta cho rằng rồng sống dưới nước, có hình dáng con rắn, thuộc loại quỷ (hay có thuyết cho là thuộc loại súc sanh), có thần lực kêu mây làm mưa, cũng là hộ pháp đắc lực cho Phật pháp. Trong kinh điển Phật Giáo có khá nhiều câu chuyện liên quan đến rồng và có đủ loại hình tượng Long Vương khác nhau. Phạn ngữ nāga là từ thần cách hóa của loài rắn (mãng xà).
  26. Già Lam (s, p: saghārāma, 伽藍): âm dịch là Tăng Già Lam Ma (僧伽藍摩), gọi tắt là Tăng Già Lam (僧伽藍), Tăng Viên (僧園), Chúng Viên (眾園), Tăng Viện (僧院), v.v., là nơi thanh tịnh, vắng vẻ phù hợp cho chư tăng tập trung tu hành. Về sau, từ nầy được dùng để ám chỉ kiến trúc tự viện, từ đó có tên gọi Thất Đường Già Lam (七堂伽藍). Tổ chức của Thất Đường Già Lam nầy có khác nhau ít nhiều tùy theo tông phái. Trong Thiền Tông có 7 kiến trúc chính gồm Pháp Đường, Chánh Điện, Sơn Môn, Nhà Kho, Tăng Đường, Nhà Tắm, và Nhà Vệ Sinh. Tại ngôi chùa A Lan Nhã (阿蘭若) ở Lôi Châu (雷州), Tỉnh Quảng Đông (廣東省) có câu đối rằng: “A Lan Nhã bổn không môn phương tiện môn khai vô nhị pháp, Già Lam Ma nãi giác lộ tu hành lộ vãng hữu Tam Thừa (阿蘭若本空門方便門開無二法伽藍摩乃覺路修行路徃有三乘, A Lan Nhã vốn cửa không, phương tiện cửa mở chẳng hai pháp; Tăng Già Lam là đường giác, tu hành đường qua có Ba Thừa).”
  27. Chơn Tể (眞宰): đấng chủ tể của vạn vật. Trong Đạo Gia (học phái của Trang Tử, Lão Tử), vị nầy được ví cho Trời. Như trong Vô Thượng Cửu Tiêu Ngọc Thanh Đại Phạm Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (無上九霄玉清大梵紫微玄都雷霆玉經) của Đạo Giáo có xuất hiện các từ như Thiên Lôi Chơn Tể (天雷眞宰), Thần Lôi Chơn Tể (神雷眞宰), v.v. Trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, CBETA No. 1248) có câu: “Cận viễn miếu mạo hà nhĩ linh kỳ, bổn am lập địa dực ứng, Sĩ Chu Tuyên Linh Chúa Hộ Già Lam thần, hợp đường chơn tể, trù ty Giám Trai Sứ Giả, chủ thang hỏa Tỉnh Táo thần kỳ (近遠廟貌遐邇靈祇本菴立地翊應俟周宣靈主護伽藍神合堂廚司監齋使者主湯火井灶神祇, xa gần ngoài miếu, xa gần thần linh; bổn am lập địa ứng giúp, Sĩ Chu Tuyên Linh Chúa Hộ Già Lam thần, chư vị Chơn Tể cùng thờ, Giám Trai Sứ Giả nhà bếp, Thần Táo Quân, Thần Giếng chủ quản lửa nước).”
  28. Vạn linh (萬靈): (1) các vị thần. Trong phần Phong Thiền Thư (禪書) của bộ Sử Ký (史記) có đoạn rằng: “Hoàng Đế tiếp vạn linh Minh Đình (皇帝接萬靈明廷, Hoàng Đế tiếp các vị thần ở Minh Đình).” Trong bài Thứ Vận Trương Xương Ngôn Hỷ Vũ (次韻張昌言喜雨) của thi hào Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống, có câu: “Tinh quán thiên nhân nhất ngôn túc, vân hưng nhạc độc vạn linh xu (精貫天人一言足、雲興岳瀆萬靈趨, thông rõ trời người một lời đủ, mây lên đỉnh núi khiến thần đi)”. Tự Điển Tạp Nghị (典雜儀) 4 của Củng Tự Trân (自珍, 1792-1841) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Chiêu vạn linh chi hữu, tích cửu lưu chi phước (召萬靈之佑、錫九流之福, Mời các vị thần giúp đỡ, ban phước cho chín loài)”. (2) các sinh linh. Sách Hạt Quan Tử (鶡冠) có đoạn rằng: “Duy thánh nhân năng chánh kỳ âm, điều kỳ thanh, cố kỳ đức thượng cập Thái Thanh, trung cập Thái Trữ, hạ cập Vạn Linh (唯聖人能正其音、調其聲、故其德上及太清、中及泰宁、下及萬靈, chỉ có thánh nhân mới có thể sửa đúng âm của mình, điều chỉnh tiếng của mình; cho nên đức của vị ấy trên vang tận Thái Thanh, giữa lan đến Thái Trữ và dưới đến các sinh linh)”. Trong Bão Phác Tử (抱朴子), phần Tiên Dược (仙藥) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có ghi rằng: “Ngao du thượng hạ, sử dịch vạn linh (遨遊上下、使役萬靈, ngao du trên dưới, sai khiến mọi loài).”